(Đời sống) - Sau hai năm, chúng tôi có dịp trở lại thôn Mai Động, xã Trung Lương, huyện Bình Lục, Hà Nam thăm lại gia đình bà Dậu. Cuộc sống của người dân nơi đây dường như đã được khoác thêm một màu tươi mới, nhưng nỗi cơ cực của gia đình bà Dậu thì vẫn không thay đổi, nếu như không muốn nói, cuộc sống của gia đình bà mỗi ngày mỗi khốn khó hơn, bởi bệnh tật của chồng và con gái bà đang ngày một nặng hơn.
| 30 tuổi, cũng gần bằng ấy năm chị Giang phải sống trong cũi sắt |
Cay đắng một kiếp người
Bà Lương Thị Dậu năm nay đã sang tuổi 63. Ở thôn Mai Động này, bà Dậu nổi tiếng đến nỗi đứa trẻ lên 3 cũng biết nhà bà. Nhưng cái sự “nổi tiếng” của bà Dậu chẳng phải là sự nổi tiếng của danh giá, bà nổi tiếng bởi cái nghèo, cái khổ và bất hạnh cứ đeo bám mãi cuộc đời bà như một định mệnh khắc nghiệt.
Từ trong ngôi nhà cũ kĩ, lụp xụp, bà Dậu tất tả chạy ra mời chúng tôi vào nhà. “Đúng là nhà “chị Dậu”!”, ý nghĩ đó thoáng nhanh trong đầu tôi, khi nhìn một lượt ngôi nhà của bà Dậu. Gia sản của nhà bà chẳng có vật dụng gì đáng giá, ngoài bộ bàn ghế và chiếc tủ chè có cửa kính mà tôi đoán ít nhất nó cũng nhiều hơn tuổi cô con bại não của bà. Rót vội hai cốc nước, bà phân trần: “Nhà tôi chỉ có nước trắng, các chú uống tạm, cốc chén tôi vừa lau chùi sáng nay đấy…”.
Bà Dậu kể cho chúng tôi nghe về cuộc đời cay đắng, khổ cực của bà bằng một giọng trầm buồn. Thỉnh thoảng bà dừng lại, lấy tay gạt hai hàng nước mắt…
Năm 1977, bà Dậu kết hôn với ông Linh Hữu Cường, chung sống với nhau được vài năm thì ông Cường mất. 6 năm sau, nhờ mai mối, bà đi thêm bước nữa với ông Nguyễn Văn Tùng, sinh được 3 người con là chị Nguyễn Thị Giang (SN 1984) và 2 cậu con trai đã trưởng thành, hiện đang đi làm thuê, làm mướn ở xa.
Chị Giang mắc bệnh bại não từ khi mới lọt lòng, chạy chữa mãi cũng không khỏi, lúc nào cũng điên điên, dại dại. Không có thời gian kiểm soát con, bà Dậu đành phải đóng cũi sắt nhốt con trong đó. Ban đầu xót con, bà cũng đặt chị Giang ở góc buồng, mọi sinh hoạt cá nhân “gói ghém” trong chiếc cũi.
Cuộc sống của bà từ khi lấy chồng đã nghèo, nuôi thêm đứa con bại não càng chật vật. Vậy mà, cuộc đời bà đã đâu hết khổ. Năm 2005, sau một lần tai biến mạch máu não, ông Tùng trở thành người bại liệt, câm, điếc, mắt mờ, không có tiền chạy chữa cho chồng đến nơi đến chốn, bà Dậu lại thêm một lần nuốt nước mắt nhìn chồng sống cuộc đời thực vật.
30 tuổi, cũng gần bằng ấy năm chị Giang phải sống trong cũi sắt. Gần 30 năm chăm con trong cũi, 9 năm nuôi chồng bại liệt, nỗi cơ cực của bà Dậu không thể đong đếm hết. Ngày thì bón cơm, chùi rửa, chăm bẵm chồng con, đêm thì lại “đánh vật” bê chồng từ xe lăn lên giường, vén màn, dỗ ngủ như đứa trẻ, rồi lại quay ra cũi sắt, ủ chăn, bịt bùng kín cho con gái. Đặt lưng xuống giường, bà vẫn chưa hết trằn trọc bởi tiếng ho hắng của chồng, tiếng khóc ti tỉ mỗi đêm trở trời của chị Giang. Chợp mắt một cái đã đến sáng, bà Dậu lại quay cuồng với một ngày kiếm tiền và nối dài cho hai cuộc sống “trời đày” của chồng con.
Trong ngôi nhà ẩm thấp, lúc nào cũng tỏa mùi khai thối, bởi mọi vệ sinh cá nhân của ông Tùng và Giang ngay tại chổ và cũng không tự chủ được việc đó. Thậm chí nhiều lần, vừa đại tiện xong, bà Dậu còn chưa kịp dọn vệ sinh cho con, thì Giang lại bốc phân, bôi xoa từ đầu xuống khắp người. Họ hang, làng xóm chẳng ai dám bén mảng đến nhà bà Dậu.
Theo chân bà vào thăm ông Tùng, người chồng đang sống cuộc sống thực vật, gắn liền với xe lăn gần chục năm nay, cảnh tượng trước mắt khiến chúng tôi phải rớt nước mắt. Ông Tùng tóc bạc trắng, râu ria lởm chởm, dại ngờ dại nghệch nhìn chúng tôi rồi ú ớ cười. Bà Dậu quay sang chúng tôi: “ Ông ấy thấy người lạ là như vậy đấy. Thấy ai cũng ú ớ gọi nhưng có biết ai với ai đâu…”.
Chị Giang dường như chẳng để ý gì đến sự có mặt của chúng tôi. Chị ngồi bất động, dựa vào chiếc cũi sắt, ánh mắt vô hồn. “Lúc bình thường thì nó vậy đấy, chẳng nói năng gì đến vài giờ, lúc đó nhìn hiền và thương lắm. Nhưng những lúc nó lên cơn, la hét, đập phá cũng dữ lắm các chú ạ. Tôi chẳng đặng đừng mới nuôi con trong cũi. Thả ra thì sợ nó đập phá, hoặc đi mất, nhưng nuôi nó ở đây cũng xót long, người ta nói ra, nói vào…”, bà Dậu chia sẻ thêm.
Vẫn cần lắm sự chung tay của cộng đồng
30 năm nay, bà Dậu sống một cuộc sống “khổ hơn chị Dậu”. Theo lời bà và những người hàng xóm kể, chưa có việc gì mà người đàn bà thôn quê ấy chưa phải làm đến. Từ bốc vác, phụ hồ, nhặt phế liệu, đổ bê tông… bà đều làm hết, ai thuê làm gì bà cũng nhận lời. Nhưng bà bảo, làm thì bà không thấy khổ, khổ nhất là những hôm đi làm về muộn, chồng con ở nhà đói, nằm nghiêng ngả, vất vưởng khắp xó nhà, lòng bà lại quặn thắt.
| Bà Dậu và ông Tùng (chồng bà) đang sống cuộc sống thực vật. |
Một mình bà đảm đương 5 sào lúa, chăm sóc chồng con, tranh thủ mò cua bắt ốc… Cứ kẽo kẹt, long đong như thế, gần 30 năm nay bà phải lận đận kiếp mưu sinh để có cái ăn cái mặc cho qua ngày đoạn tháng.
Mỗi ngày bà Dậu kiếm được vài chục nghìn đồng, hôm nào mưa bão nghỉ ở nhà đồng nghĩa với việc hai bữa ăn cho mấy người bệnh chỉ có cơm rau. Hai con trai của bà Dậu mang tiếng đi làm ăn xa, nhưng do không được học hành đến nơi đến chốn, nên bà Dậu chỉ cầu mong “cho chúng nuôi đủ miệng chúng là được, chứ trông cậy được gì”. Mọi công to, việc lớn đều đổ hết lên đôi vai gầy của bà Dậu. Nhưng hiện tại, sức khỏe bà Dậu không còn như trước, bệnh dạ dày, huyết áp thấp, suy tim…đang gặm nhấm dần sức lực của bà. Tuy vậy, để duy trì cuộc sống gia đình, bà Dậu không một ngày dám nghỉ ngơi.
Theo lời bà Dậu, từ năm 2012, chị Giang được Nhà nước nâng mức hỗ trợ từ 180.000 đồng/tháng lên 350.000 đồng/tháng, ông Tùng cũng được trợ cấp 450.000 đồng/tháng. Tổng thu nhập của gia đình bà Dậu chỉ khoảng trên dưới 1 triệu đồng/tháng, cho sinh hoạt của 3 người. “Khó khăn vậy, nhưng bù lại tôi cũng được láng giềng thương lắm. Người ít, người nhiều, thỉnh thoảng các ông, bà, cô, bác cũng cho”, bà Dậu tâm sự.
Nói về gia cảnh của bà Dậu, một người hàng xóm (xin giấu tên) cho biết: “Cảnh khổ của bà Dậu ở đây thì ai cũng thương, cũng biết. Nhưng người dân ở đây cũng chẳng có ai khấm khá gì, nên cũng chỉ thỉnh thoảng giúp bà được mớ rau, con cá, còn chẳng ai có tiền bạc mà cho. Riêng sự chăm sóc của bà Dậu với bố con ông Tùng thì không thể kể hết những vất vả, cay cực. Bà Dậu hiền lành, đảm đang, lại khổ thế nên được nhiều người thương lắm. Mấy năm gần đây, chẳng biết sao báo đài lại biết tin, thỉnh thoảng về thăm, đưa hoàn cảnh của bà ấy lên báo, nên thi thoảng bà ấy cũng được cho tiền…”.
Ông Nguyễn Văn Tý, Chủ tịch UBND xã Trung Lương cho biết: “Hàng năm chính quyền xã cũng cử đoàn cán bộ đến chia sẻ, động viên, giúp đỡ gia đình bà Dậu, đồng thời vận động các nhà hảo tâm xa gần giúp gia đình bà vượt qua khó khăn”.
Chị Giang đã từng được Trung tâm bảo trợ xin về nuôi?Ông Lê Gia Hùng, trưởng thôn Mai Động, được ông cho biết: “Hoàn cảnh của gia đình bà Dậu ở đây người dân ai cũng biết, hiện tại hai bố con ông Tùng đang được hưởng chính sách Thương binh Xã hội đối với người tàn tật, những người có hoàn cảnh đặc biệt” của Nhà nước. Trước đây, cũng đã có đoàn cán bộ của Trung tâm Hội bảo trợ người tàn tật tỉnh Hà Nam đến nhà bà Dậu xin đem chị Giang về Trung tâm nuôi dưỡng, nhưng vì tình mẫu tử nên bà Dậu từ chối. Về vấn đề này chính quyền xã để cho bà Dậu tự quyết, vì dù sao cô Giang cũng là một con người và tình mẫu tử là quyền của hai mẹ con bà tự quyết, chúng tôi cũng chỉ tham gia có giới hạn về điều này”.
Hiển Anh
No comments:
Post a Comment